Posted by: vienthong | January 8, 2012

Redirect to http://vienthongkysu.com

Tất cả thông tin bài viết trên blog này từ nay sẽ được chuyển về địa chỉ http://vienthongkysu.com. Các bạn update đường link nhé :)

Posted by: vienthong | January 4, 2012

Các loại tấn công trên thẻ thông minh

“Một chiếc thẻ thông minh khi đến tay người sử dụng phải trải qua nhiều công đoạn với sự tham gia của nhiều nhân tố. Trước hết là quá trình sản xuất chip tại cácnhà sản xuất chip. Tiếp theo là việc phát triển phần mềm tương ứng với các ứng dụng của sản phẩm tại các nhà sản xuất thẻ. Trước khi đến tay người sử dụng, thẻ được cá thể hóa tại các nhà cung cấp dịch vụ. Như vậy, khi xem xét vấn đề bảo mật của thẻ thông minh, chúng ta phải xem xét đến tất cả các công đoạn, cũng như các nhân tố tham gia và môi trường của từng công đoạn.”

Trích dẫn trong blog trước đây

Trước khi tìm hiểu sâu về các loại tấn công trên thẻ thông minh, chúng ta cùng xem kiến trúc chung của chúng.

I. Cấu tạo chung

Thẻ thông minh có thể coi như một máy tính thu nhỏ với các thành phần chính sau :

  • CPU (Central Processing Unit) : bộ xử lý trung tâm hoạt động với tốc độ từ 4 đến 50MHz.  Để tăng tốc độ xử lý của các hàm mã hóa, bộ vi xử lý thường được hỗ trợ bởi các bộ xử lý mã hóa (cryptoprocessors), ví dụ như bộ xử lý DES, AES hay bộ xử lý RSA và ECC.
  • ROM (Read Only Memory) : bộ nhớ lưu giữ phần mã cố định của thẻ, có thể dao động từ 6 đến 512 KByte.
  • EEPROM (Electrically-Erasable Programmable Read-Only Memory) : bộ nhớ lưu giữ phần mã liên quan đến các ứng dụng ở mức độ cao, dao động từ 1 đến 256 KByte.
  • RAM (Random Acces Memory) : bộ nhớ động lưu giữ các dữ liệu đang được xử lý, dao động từ 256 Byte đến vài KByte.
  • Bus : có 3 loại Bus là Bus địa chỉ, Bus dữ liệu và Bus điều khiển.
  • Giao diện I/O : phụ trách việc truyền thông với môi trường bên ngoài.

Bên cạnh các thành phần chính kể trên, nhà sản xuất chip có thể bổ sung các thành phần khác như TRNG (True Random Number Genenerator) để tạo ra các số ngẫu nhiên dùng trong quá trình xác thực hay để tạo ra các chìa khóa, bộ xử lý CRC (Cyclic Redundancy Check) nhằm phát hiện lỗi của dữ liệu trong quá trình ghi, đọc, lưu trữ và vận chuyển.

II. Phân loại các tấn công

Có một số loại tấn công tiêu biểu trên thẻ thông minh. Các phương pháp tấn công có thể chia làm ba loại: tấn công ở mức độ xã hội, tấn công ở vật lý và tấn công logic.

1)Tấn công xã hội

Tấn công xã hội là các tấn công liên quan đến môi trường sản xuất, lưu giữ và sử dụng thẻ cũng như các thông tin liên quan tới thẻ. Loại tấn công này chủ yếu liên quan đến những người làm việc hoặc sử dụng thẻ thông minh. Ví dụ một kỹ sư trực tiếp thiết kế Chíp có thể cung cấp các thông tin quan trọng về cấu tạo, kiến trúc của mạch hay các biện pháp bảo vệ của chip. Các thông tin này sẽ rất hữu ích cho người tấn công, ví dụ như thông tin cho người tấn công vị trí chính xác mà họ cần tấn công. Các thông tin bí mật có thể bị mất bởi người sử dụng thẻ, tiêu biểu là việc ăn cắp mã số bí mật của thẻ khi người dùng ấn mã này trên bàn phím của các máy rút tiền. Việc làm rò rỉ các thông tin liên quan đến thẻ (chìa khóa, mã PIN) thông qua cơ sở dữ liệu của nhà cung cấp dịch vụ cũng có thể coi là một dạng tấn công xã hội.

 2)Tấn công vật lý

Những tấn công vật lý thông thường cần tới các thiết bị hiện đại để xâm nhập vào các vi mạch của Chip. Dựa vào mức độ xâm nhập vào thẻ, ta có thể chia các tấn công này làm 3 loại:

  • Tấn công xâm nhập: lớp bảo vệ của chíp sẽ bị loại bỏ (thông thường bằng phương pháp hóa học), mạch điện của thẻ được kết nối, cấu trúc mạch và bộ nhớ của thẻ sẽ bị đọc thông qua các kỹ thuật chụp và xử lý ảnh. Đây là cách tấn công đòi hỏi sự đầu tư lớn về các thiết bị đo đạc và xử lý.
  •  Tấn công bán xâm nhập: trong loại tấn công này, các mạch điện không được kết nối. Ví dụ điển hình là tấn công bằng lỗi (Fault Analysis) như việc dùng tia Laser chiếu vào mạch để mạch hoạt động không bình thường. Hậu quả của tấn công này là thẻ có thể hoạt động không theo quá trình đã được định sẵn (ví dụ bỏ qua việc kiểm tra mã PIN) hoặc các kết quả  thu được từ một quá trình lỗi có thể cho phép ta tìm được một vài thông tin bí mật chứa trong thẻ.
  • Tấn công không xâm nhập: tấn công này không đòi hỏi bất cứ một sự xâm nhập trực tiếp nào vào thẻ. Nổi bật trong dạng này là tấn công bằng kênh phụ (Side Channel Analysis) mà ở đó người tấn công sẽ tìm cách đo các tín hiệu phát ra từ thẻ như năng lượng tiêu thụ điện hay cường độ của trường điện từ. Các thông tin này sẽ được xử lý để tìm ra các dữ liệu bí mật như chìa khóa mã hóa dùng trong thẻ

3)Tấn công logic

Tấn công logic dựa vào những suy luận logic liên quan đến các thuật toán mã hóa hay các giao thức dùng trong thẻ thông minh, ví dụ như các phương pháp giải mật mã (cryptanalysis). Trên thực thế, các tấn công vật lý và logic có thể được kết hợp với nhau. Ví dụ : Đầu tiên, người tấn công dùng một tấn công vật lý khiến cho thẻ hoạt động trong một điều kiện đặc biệt. Tiếp theo, họ dùng một tấn công logic khai thác sự khác nhau khi một thẻ hoạt động bình thường và một thẻ hoạt động trong điều kiện đặc biệt. Dựa vào sự khác nhau này và các phép suy luận logic, thông tin bí mật có thể được tìm ra. Đây chính là loại tấn công bằng lỗi vi phân (Differential Fault Analysis).

III. Phân loại người tấn công

 Người tấn công thẻ thông minh thường có hai động cơ chính : lòng tham và sự nổi tiếng. Lòng tham ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng, có thể là sự mong muốn sở hữu về mặt tài chính (ví dụ rút tiền trong tài khoản của những người sử dụng thẻ, dùng thẻ trong các mua bán trên mạng hay nhằm tạo ra tiền ảo trong ví điện tử Moneo) nhưng cũng có thể là sự sở hữu về các thông tin cá nhân (ví dụ theo dõi quá trình di chuyển của người sở hữu hộ chiếu điện tử hay tìm hiểu các thông tin liên quan đến quá trình điều trị bệnh của một người sở hữu thẻ bảo hiểm y tế…). Thường trong những trường hợp này, kẻ tấn công bị coi là “kẻ xấu”.

Phân loại người tấn công hệ thống thẻ thông minh

Danh tiếng của một hệ thống thẻ thông minh cũng có thể bị tổn hại bởi những tấn công nhằm mục đích gây dựng danh tiếng, trong đó phải kể đến các nghiên cứu khoa học được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tại các trường đại học, các viện nghiên cứu… Sức ép về việc có những kết quả được công bố trong các hội thảo, các tạp chí khoa học trong thời gian nhanh nhất có thể cũng là một động lực rất lớn để họ dành thời gian và sức lực cho các tấn công. Nhóm đối tượng này thường có một kiến thức vững chắc về thẻ thông minh cũng như bảo mật, được hỗ trợ bởi một điều kiện làm việc tốt, với những trang thiết bị hiện đại. Trong hoàn cảnh này, người tấn công được coi nhà những người khám phá ra những lỗ hổng về bảo mật, và họ được coi là “người tốt”. Tuy nhiên, dù một tấn công được thực hiện bởi một “kẻ xấu” hay một “người tốt” cũng đều làm tổn hại đến sự an toàn và danh tiếng của một hệ thống thẻ thông minh, và trong trường hợp nào thì các nhà sản xuất chip, các nhà sản xuất thẻ và các nhà cung cấp dịch vụ cũng phải có những giải pháp phù hợp để tránh hay giảm bớt hậu quả của các tấn công này.

Những người tấn công thẻ thông minh có thể hoạt động một cách cá nhân hay có tổ chức. Các Hacker riêng lẻ thường có kiến thức trung bình về các hệ thống nhưng lại có rất nhiều ý tưởng sáng tạo. Gián điệp bao gồm những người trực tiếp làm việc với thẻ và biết rõ các điểm yếu của sản phẩm. Các tội phạm thường có trình độ kỹ thuật không cao nhưng có động cơ cá nhân rất lớn (thường là tài chính). Liên quan đến các tổ chức, các cơ sở giáo dục như các trường đại học hay các viện nghiên cứu, với các sinh viên và giáo sư có trình độ và trang thiết bị hiện đại, cũng là một nguồn tấn công đáng kể. Các trung tâm nghiên cứu của các công ty hay của chính phủ cũng có các điều kiện làm việc và nguồn năng lực rất tốt để nghiên cứu các tấn công. Và cuối cùng, các tổ chức tội phạm là một trong những nguồn tấn công rất nguy hiểm do họ có tiềm lực tài chính lớn để có thể thu được những kiến thức và công cụ tấn công cần thiết.

Phần  tiếp theo, một số tấn công tiêu biểu sẽ được miêu tả.

TS. Lê Thanh Hà

Posted by: vienthong | January 3, 2012

Truyền dữ liệu qua ánh sáng đèn LED

Đặc điểm của công nghệ này là các thiết bị phát/nhận phải “thấy” nhau. Khả năng ứng dụng truyền dẫn không dây qua ánh sáng LED được cho là rất có tiềm năng với các thiết bị điện tử trong gia đình. Công nghệ này vừa để thắp sáng, vừa để truyền dữ liệu nên tiết kiệm được điện năng. Ngoài ra, so với các công nghệ truyền dẫn không dây khác dựa trên sóng điện từ có thể gây hại cho sức khoẻ con người, ánh sáng LED tỏ ra “thân thiện” hơn tuy chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về tác động này. Hiện thời, Mỹ, Nhật và châu Âu cũng đang hướng đến công nghệ truyền dẫn LED này.

Posted by: vienthong | January 1, 2012

Truyền thông từ máy đến máy (M2M)

Truyền thông từ máy đến máy  hay còn gọi là truyền thông M2M (Machine to Machine) ra đời từ chính những nhu cầu thiết yếu của ngành viễn thông mình như dịch vụ chuyển mạch, giám sát từ xa các thiết bị hay thực hiện các phép đo đạt từ xa. Ngày nay, truyền thông M2M sử dụng hệ thống mạng viễn thông kết hợp với công nghệ máy tính  để quản lý trực tiếp các thiết bị từ xa trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thị trường này sẽ phát triển nhanh chóng bất chấp sự đa dạng về các hệ thống phần mềm cũng như sự cạnh tranh từ rất nhiều nhà cung cấp thiết bị.

Một cách khái quát ta có thể định nghĩa  rằng truyền thông M2M là sự kết hợp của công nghệ thông tin và truyền thông với các thực thể giao tiếp thông minh  nhằm để cung cấp cho chúng khả năng tương tác lẫn nhau mà không cần sự can thiệp của con người với hệ thống thông tin của một tổ chức hay một doanh nghiệp.

Khởi đầu của truyền thông M2M

Một trong những áp dụng đầu tiên bên ngoài lĩnh vực viễn thông của truyền thông M2M là dùng để gửi tín hiệu cảnh báo về các tổ chức quản lý những bảng quảng cáo chiếu sáng quay. Đối với loại bảng quảng cáo này, thời gian hiển thị của những tờ quảng cáo là như nhau và được thay đổi liên tục nhờ vào một hệ thống con lăn. Mỗi khi con lăn gặp sự cố, một tin nhắn SMS (theo định dạng đã định trước, kèm theo vị trí bảng quảng cáo) sẽ được gửi về bộ phận quản lý để kịp thời xử lý. Về phần mình, người quản lý có một giám sát sự vận hành của tất cả các bảng quảng cáo. Công nghệ được dùng, trong ví dụ này, là hệ thống truyền thông di động GSM. Người ta lắp đặt một thiết bị đầu cuối di động GSM tại mỗi bảng quảng cáo kèm với một cơ chế để gửi SMS khi cần thiết. Dần dần, sự ra đời của nhiều hệ thống truyền thông mới đã mở đường cho việc dùng truyền thông M2M vào nhiều mục đích, lĩnh vực khác nhau.

Kiến trúc truyền thông M2M

  • Người dùng & thiết bị: Là những người dùng được trang bị các thiết bị thông minh như cảm biến vị trí hay cảm biến đo huyết áp v.v. Hoặc là những thiết bị công nghiệp như lò nung nhiệt độ cao, các phương tiện giao thông,  các máy photocopy ở các công ty v.v.  Ngoài ra truyền thông M2M còn được dùng để phân tích môi trường (đo nhiệt độ, áp suất, mức nước…). Trong trường hợp này không có các thiết bị theo mô hình kiến trúc này.
  • Thiết bị giao tiếp thông minh: Đó chính là các cảm biến và các thiết bị truyền động có khả năng giao tiếp với bên ngoài. Chúng ta có thể kể đến các chip RFID, các mô đun định vị như GPS, các camera điều khiển từ xa. Các cảm biến và truyền động có thể được tích hợp trong nhiều máy mốc thiết bị khác nhau chẳng hạn như một máy photocopy được tích hợp với một mô đun GSM. Thiết bị giao tiếp thông minh cũng có thể là một điện thoại smartphone hay PDA được tích hợp một mô đun giao tiếp thích hợp (bằng WiFi, FRID, GSM, ZigBee, Bluetooth…).
  • Mạng WAN: Công nghệ M2M ngày nay sử dụng nhiều hệ thống truyền thông khác nhau ví dụ như  hệ thống mạng có dây,  mạng không dây tầm ngắn như Bluetooth, RFID, ZigBee v.v, các mạng thông tin di động  GSM, GPRS, UMTS, HSPA và cả hệ thống mạng truyền thông vệ tinh.
  • Nền tảng dịch vụ M2M: Đó chính là tập hợp các công cụ (không tính đến mạng truyền thông) cần thiết để truyền tải thông tin, lưu trữ các trao đổi và các công cụ giúp quản lý và khai thác các thiết bị giao tiếp thông minh. Chúng ta cũng có thể tìm thấy các nền tảng trung gian (middleware) mà mục đích là tổ chức các dòng dữ liệu đến các thiết bị giao tiếp khác nhau.
  • Hệ thống thông tin IS doanh nghiệp: Giải pháp M2M có thể tích hợp hay không với hệ thống IS của một công ty. Trong trường hợp đầu tiên, nền tảng dịch vụ trung gian được mô tả ở trên, cung cấp các yếu tố kết nối cần thiết để tích hợp với ứng dụng doanh nghiệp: phần mềm ERP, quản lý chuỗi cung ứng (SCM), quản lý quan hệ khách hàng (CRM). Trong trường hợp thứ hai, giải pháp M2M có thể cung cấp một giao diện hiển thị những trao đổi, những thông tin mà không cần tương tác với phần còn lại của hệ thống thông tin.

Một số ứng dụng của truyền thông M2M

Truyền thông M2M đáp ứng các nhu cầu cụ thể của các doanh nghiệp. Công nghệ M2M tích hợp dễ dàng vào các thiết bị trong các phương tiện giao thông, ở các vùng nông thôn và đô thị (hệ thống báo động lũ ở đồng bằng, rừng giám sát), trên cơ thể sống (con người, động vật) v.v. Truyền thông M2M  có thể được phân thành các loại hình kiến trúc mạng: mạng thể chất (đối với cơ thể con người), mạng cục bộ, mạng nhận thức,v.v.

  • Hệ thống giao thông thông minh trong đó các xe tham gia giao thông tương tác với các công trình giao thông (cột đèn, biển báo…) nhằm mục đích tránh giảm bớt tai nạn giao thông, điển khiển lưu lượng giao thông, cung cấp thông tin phân luồng cũng như các dịch vụ lân cận.
  • Mạng lưới phân phối điện (smart grid) :  Các tổ chức phân phối năng lượng điện giả định rằng nhu cầu về năng lượng điện cũng như việc sản xuất điện cục bộ có thể được tổ chức với sự giúp đỡ của các cảm biến. Các robot thông minh, được theo dõi từ xa, cho phép tiết kiệm đáng kể trong lĩnh vực năng lượng.
  • Hệ thống thu phí cầu đường tự động
  • Hệ thống giám sát, báo động trộm, cháy, thâm nhập trong các tòa nhà, trụ sở, công xưởng.
  • Các dự án liên quan đến e-health: chuẩn đoán từ xa, theo dõi bệnh nhân tại nhà, trợ giúp người già neo đơn.

Thị trường mạng cảm biến không dây

Các đặc điểm thiết yếu của M2M tập trung vào sự chắc chắn của truyền thông tin. M2M không cần một kênh truyền tốc độ cao nhưng cần thiết là kênh truyền đó không bị nhiễu, an toàn, bảo mật và có khả năng  thích ứng tốt với chất lượng kênh truyền và khả năng thiết lập định tuyến phù hợp. Hệ thống mạng cảm biến lưới (Wireless Sensor Network) càng ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm phục vụ cho truyền thông M2M.

Theo nghiên cứu thị trường được thực hiện bởi IDTechEx, mạng lưới các cảm biến được liên kết bởi các hệ thống vô tuyến (WSN) dự kiến ​​sẽ tăng từ 0,5 triệu USD trong năm 2011 đến 2 tỷ USD trong năm 2021. Mạng cảm biến không dây sẽ cho phép theo dõi cháy rừng, quản lý các tình huống khủng hoảng trong trường hợp thiên tai, vv. Tương lai của cảm biến thụ động (không cần năng lượng) hoặc được cung cấp năng lượng trực tiếp từ mạng gia đình có vẻ là rất thú vị. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn chung thì vẫn chậm được phê duyệt. Ví dụ, liên quan đến công nghệ ZigBee, một số lượng lớn các tùy chọn đã được đề nghị. Cuối cùng, những công ty tích hợp chính là vẫn còn thiếu, một số công ty cung cấp thiết bị duy nhất còn các công ty khác thì chỉ cung cáp phần mềm giao tiếp (hoặc trên C hoặc Java hoặc Linux). Sự đa dạng về nhà phân phối thiết bị và phần mềm có lợi thế là đảm bảo một hệ thống truyền thông M2M có mức độ bảo mật cao, nhưng nó vẫn tạo ra khó khăn nhất định cho sự phát triển của thị trường toàn cầu. Trong nghiên cứu của mình, IDTechEx phân tích thị trường trong tất cả các khía cạnh của nó. Chi phí trung bình của một nút cảm biến dự kiến ​​sẽ được định giá  khoảng 25 USD trong năm 2021.

Lời kết

Các mạng không dây hiện nay là chủ yếu là thiết kế cho truyền thông giữa người với người (H2H : human to human) với những yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ, độ trễ thiết lập cuộc gọi, khả năng di động, đáp ứng tính năng tương tác cao của con người. Bởi vì truyền thông M2M mang đến những yêu cầu rất khác so với truyền thông H2H truyền thống và hiện nay số lượng thiết bị truyền thông M2M càng ngày càng nhiều,  mạng truy cập không dây chắc chắn sẽ phải được cải tiến để thích ứng với loại truyền thông mới này. Chủ đề truyền thông  M2M thu hút được một sự quan tâm hết sức đặc biệt của  cộng đồng nghiên cứu và công nghiệp gần đây. Nó cũng đã thu hút được sự chú ý của cơ quan chuẩn hoá 3GPP LTE.  Mục tiêu của 3GPP LTE là tìm kiếm và xác định những yêu cầu tiềm năng để  tạo thuận lợi cho truyền thông M2M, và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên vô tuyến và tài nguyên mạng.

Posted by: vienthong | December 31, 2011

Đo sự đồng bộ trong mạng truy nhập 3G

Sự đồng bộ  giữa các trạm phát sóng trong hệ thống 3G WCDMA là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo sự vận hành của hệ thống. Nếu 2 trạm phát sóng mà không đồng bộ (synchronisation) với nhau thì sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển giao (handover), ảnh hưởng đến chất lượng thoại, mất gói,…..

Giải pháp đồng bộ: Các NodeB có thể đồng bộ hóa thông qua:

  • Thiết bị GPS (mỗi trạm được kết nối với một GPS device)
  • Thông qua hệ thống đồng bộ cung cấp bởi mạng truyền dẫn TDM (E1/T1, STM-1…).
  • Nếu truyền dẫn mạng truy nhập chuyển sang dùng công nghệ IP/Ethernet (không dùng E1 nữa), thì việc đồng bộ có thể dùng PTP (precision time protocol) hay SyncE (synchronous Ethernet). Cơ chế SyncE là mới nhất nhưng không phải thiết bị nào cũng tương thích được với SyncE vì nó đòi hỏi những cải tiến mới trong phần firmware.

Bài viết này tôi không nhằm mục đích giới thiệu về các giải pháp đồng bộ mà chủ yếu để giới thiệu cách để đo được sự đồng bộ này.

Nguyên tắc đo: Dựa trên độ chính xác (sai lệch) về tần số giữa tần số output từ một time server (đồng hồ chủ) và tần số tại NodeB cell.

Thiết bị: dùng các Vector Signal Analyzer (VSA) (có nhiều thiết bị của nhiều hãng khác nhau ).

Các bước tiến hành:

1. Nối output từ Master Time Server vào External RF Input tại VSA (dùng RF radio cáp với các connector phù hợp)

Cách lắp đặt như hình minh họa dưới đây.

2. Kết nối RF output tại BTS (cell) tới RF Input tại VSA (hình minh họa kết nối tại VSA)

3. Sau khi kết nối xong thì tiến hành đo

- Step 1: Turn on VSA
- Step 2: Press “Mode”, then chose “WCDMA”
- Step 3: Press “Frequency”, specify the “center frequency” of RF input, and then press GHz
For example, if dlfrequency= 10713 (channel number),
then “center frequency” =10713/5= 2142.6 MHz=2.1426Ghz

- Step 4: Check if the Ext Reference signal from PTP server. If the “Ext Ref” is GREEN, it’s OK. If it’s RED, check the EXT RF input from PTP server.
- Step 5: Press “Measure”, then choose “Mode accuracy”
- Step 6: Press “Measure Setup”, then enter the “Primary Scrambling Code”, otherwise error “cannot correlate to input source”
- Step 7: Now, you are ready to see the Frequency error in Hz.
Note Frequency Error carefully and compute the Precision (ratio between Frequency Error and Centered Frequency) in ppb (parts-per-billion=10E(-9)).

Precision (ppb) = Frequency_Error (Hz)/center_frequency(Ghz)

For example, if the Freq Error = 2.1 Hz => Precision = 1 ppb.

Tần số freq error thay đổi khá nhanh, bạn ghi lại các thay đổi này, sau đó tính trung bình trên 50-100 samples chẳng hạn. Thường thì trạm BTS được gọi là đồng bộ nếu precision có giá trị dưới 15 ppb.

Posted by: vienthong | December 31, 2011

Notes of VNTelecom 2011 Panel discussion

VNTelcom Seminar 2011 has taken place on 26th November 2011 in Paris with the theme on ICT Innovation. The seminar consists of a panel discussion between our guests and the audience on the ICT innovation investment in Vietnam. Here below are minutes of this session.

Guests:

  • Prof. DUONG Nguyen Vu – Director of John von Neumann Institute, HCM City, Vietnam.
  • Mr. PHAM Tran Dung – Group Strategy Director, Laposte Group, France.
  • Mr. NGUYEN Canh Cuong – Commercial Counselor of Embassy of Vietnam in France.
  • Mr. PHAM Huan – CEO of InfraSystem, France & Co-founder of Vietgest, Vietnam

Context

Vietnamese ICT industry is speeding up in the last decade and is now as comparable as many countries in the region. However, it seems to reach a break even line. The outsourcing strategy is based on low-cost labor which will be no longer a competitive advantage because ICT salary is getting higher in the next few years. Thus, Vietnam ICT industry needs a new strategy to sustain the growth.

In this context, innovation seems to find its place and becomes a promising answer.

ICT Innovation is based on the Research & Development. But R&D is still a new concept among Vietnamese companies in the industry. Hence, to get start, we need to invest in Research & Development.

Many questions are raised for example: How could we start a R&D center? How to fund its development? How to attract investors to invest in the Research field in Vietnam? short term, middle term & long term?,….

Education

Education plays a very important role in this process. It will supply the industry with a competent workforce to absorb new technologies, customize and create new ones.

As a representative of policy makers, Mr. Cuong said that VietNam now concentrates on development of “Maths & English” competences for the future generations. English is very important to be involved in the R&D world where most discussions & exchanges are in English. Mathematics would help to shape a good mindset. These are amongst pre-requisite ingredients to attack the R&D.

From education side, Mr. Vu presented a partnership model of John von Neumann Institute with the industry and other European universities where R&D is well appreciated.

Investment in R&D

R&D is a long term strategic investment. This requires a lot of money but it’s a “must” to develop strongly ICT
industry in particular and other industries in general.

How to finance the R&D?

Mr. Dung: Financing a R&D center may be realized via public funds or private funds. For the short term investment, this can be done with a private fund. But for grand projects or the development of innovation in the long term, this should be backed by a public fund with a strong involvement of the government (Example of Laposte Group who works with private equity to fund the development of its innovation center).

Mr. Vu: Another way is to develop the cooperation model between universities and the industries. On one hand, this helps companies to reinforce their R&D teams and on the other hand, businesses fund the research in the universities. In the Vietnamese market, JVN Institute currently has several partnership contracts with industry actors who commit to invest the Research & Development.

Considering the significant investment to develop the R&D, the targeted domain should be carefully chosen and it is one of the biggest challenges. In any case, it must be the government to take the lead and the private funds will follow as a consequent.

Some opportunities

Mr. Cuong suggested that today, people receive daily a lot of information and this takes much time to proceed and find useful one. The challenge is to optimize these proceedings and we should develop tools to help people deal with this matter.

Mr. Huan shared his view on Economy versus ecology. The current trend is to develop green businesses and ICT can contribute to this process. For instance, Cloud computing is a good example of a green technology which reduces OPEX for the businesses and still meets their needs & expectations.

In responding a question from the audience, Mr. Cuong notified us that Vietnamese population living in the rural area is decreasing drastically and not as high as previous period (80-90% of the population). Urbanization is happening quickly in Viet Nam and cities are getting bigger. Mr. Vu agreed and added that the population of the urban areas will make up 30-40% of the entire population in a very near future, thus, there is a strong potential market for the ICT industry.

Viet-Dung DAM
On behalf of VNTelecom® Organization Board.

http://vntelecom.org

Posted by: vienthong | November 28, 2011

Hội thảo VNTelecom lần thứ 4.

Hội thảo VNTelecom lần 4 thành công tốt đẹp

Hội thảo VNTelecom lần 4 được tổ chức song song tại Paris và TP. Hồ Chí Minh vào ngày 26/11/2011 đã khép lại với sự tham gia của nhiều chuyên gia, giới nghiên cứu và sinh viên trong ngành công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT).

Các tham luận, trình bày tại hội thảo tập trung đi sâu phân tích, nghiên cứu về xu hướng phát triển của thị trường CNTT-TT trên thế giới, đòi hỏi cấp thiết đổi mới công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam cũng như các hướng đi cho đổi mới.

Hội thảo bắt đầu vào lúc 13h tại TP Hồ Chí Minh với 5 bài tham luận thuộc lĩnh vực smart grid, chữ kí số và thương mại điện tử, ứng dụng của RFID, đo phổ tần và những đổi mới của nhà mạng.

Ông Dương Đức Dũng, Tham tán công sứ Đại sứ quán Pháp phát biểu khai mạc hội thảo.

Phiên trình bày chung diễn ra từ 15h30 đến 18h30 với diễn văn khai mạc tại Paris của Tham tán công sứ Dương Đức Dũng (Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp) và bản tin tổng hợp về những đổi mới gần đây về mặt công nghệ cũng như thị trường, do ban tổ chức VNTelecom thực hiện.

Ông Dương Đức Dũng đã giới thiệu về chính sách quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT tại Việt Nam đến năm 2020, một số sản phẩm dự kiến của chương trình phát triển CNTT giai đoạn 2011-2015, và kêu gọi sự đóng góp của trí thức Việt Nam đang làm việc và nghiên cứu tại Pháp vào sự phát triển của lĩnh vực này tại Việt Nam.

Không khí hội trường tại Paris.

Các bài tham luận thú vị khác cũng được trình bày trong phiên chung này quanh các đề tài thanh toán di động (ông Phạm Trần Dũng, giám đốc chiến lược, tập đoàn Bưu điện Pháp), sáng tạo và khởi nghiệp (ông Christopher Quang Zobrist, phó giám đốc viện John von Neumann), quá trình tiến hóa của hệ thống thông tin (ông Phạm Huân, giám đốc điều hành Infra System) và các kết quả nghiên cứu mới nhất về multi-homing tại tầng giao vận (tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Trang, ĐH Paris 6).

Ông Phạm Trần Dũng, giám đốc chiến lược tập đoàn bưu điện Pháp có bài tham luận về thanh toán di động M-payment. Đây là bài thuyết trình được bầu chọn cao nhất tại hội thảo.

Sau khi đầu cầu tại Việt Nam bế mạc vào lúc 18h30, hội thảo vẫn được tiếp tục tại Paris với một bàn tròn tham luận về đề tài “Đổi mới trong CNTT-TT” với sự chủ trì của Giáo sư Dương Nguyên Vũ, cố vấn cao cấp về khoa học của Eurocontrol, giám đốc Viện John von Neumann thuộc ĐHQG TP Hồ Chí Minh. Tiếp đến là các phần trình diễn về ứng dụng của SDR trong hệ thống DVB-T và về các dịch vụ Mobile IP Centrex dành cho doanh nghiệp. Hội thảo kết thúc bằng cuộc chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp của Thông Tin Công Nghệ và kinh nghiệm áp dụng điện toán đám mây trong khởi nghiệp.

Hội thảo kết thúc vào khoảng 18 giờ tại Paris.

Hội thảo VNTelecom 4 đã kết thúc tốt đẹp. Ngoài khoảng 140 đại biểu tham dự tại TP HCM và Paris còn có đại diện của nhiều cơ quan thông tấn như Đài truyền hình TP HCM, Thông tấn xã VN tại Pháp, đài tiếng nói Việt Nam tại Pháp và đại diện báo Nhân Dân tại Pháp. Ban tổ chức cho biết, trong lần hội thảo sắp tới, cộng đồng viễn thông VNTelecom sẽ phối hợp với các đơn vị khác để mở rộng quy mô hội thảo, đồng thời cũng sẽ tổ chức nhiều buổi thảo luận nhỏ theo lĩnh vực hẹp hơn.

Posted by: vienthong | November 7, 2011

Cái bài nói tại hội thảo VNTelecom 2011

Slides các bài trình bày tại hội thảo được chia sẻ tại đây http://vntelecom.org/public/vntelecom11/

Title 1: The impacts of m-payment on financial services
Presenter: Pham Tran Dung (La Poste, France)

Abstract:
Google wallet, Paypal, M-Pesa, … who are these new technology based players in the financial services? They know there are 4 billions mobile phones in the world. M-payment has been well adopted in many parts of Europe and Asia. Combined market for all types of m-payments is expected to reach more than $1100B globally by 2014. But what is m-payment?

Title 2: The evolution of information system in the next few years

Presenter: Pham Huan (Infra System, France)Abstract:
The term “Information System” is not purely the combination of people, processes, data and technology. In a broad sense, it also refers to the mutual interaction between these elements and the support for making business decision. An information system is very important for managing all the activities in an organization. With the fast evolution of technology, how could a company use efficiently its information system? How should IT professionals do for adapting to the new change in their profession? How would the business in the information system sector go on? This presentation will try to give a global vision and new development trends of the information system sector in the next few years.

Title 3: Focus on last disruptive information and communication technology innovations and  its market evolution
Presenter: VNTelecom Organization board

Abstract:

What if every light bulb in the world could also transmit data? Yes, it has been one of the disruptive innovations that we will detail in this presentation. From the first 1G cellular system to the introduction of 3G & 4G technologies, from tape recorders to Apple iPods, from the origin of world wide web to web 2.0 and web 3.0 technologies, from revolutionary search engines (Yahoo, Google…) to addictive social networking websites (Facebook, Google+), ICT technology has evolved and keep evolving at great speed. In this talk, we aim at presenting some recent remarkable ICT technology innovations which could have a great impact on the way we work, live, play, and learn. Besides the technological innovation aspect, we try to give an overview on the current ICT market evolution and tendency.

Title 4: Multi-homing at transport layer (SCTP and Multipath TCP)

Presenter: Nguyen Thi Mai Trang (University of Paris 6)Abstract:Today’s mobile devices are equipped with several network interfaces. However, only one of them is used for data transmission. Another interface is used only when the current interface becomes unavailable. The lack of multi-homing support in the current TCP/IP protocol stack does not allow applications to benefit from bandwidth aggregation. New transport protocols such as SCTP (Stream Control Transmission Protocol) and MPTCP (Multipath Transmission Control Protocol) are the main solutions proposed by the IETF (Internet Engineering Task Force). In this talk, we present our research results on multi-homing transport protocols with three new mechanisms: the cooperative mobility management, the kalman-based concurrent multipath transfer, and the game-theory based load sharing.

Title 5: “Software-defined radio architecture and its application for DVB-T system communication”  (demo)
Presenter: Nguyen Trung Dung (Dibcom, France)

Abstract:
With the exponential growth in the ways and means by which people need to communicate – data communications, voice communications, video communications, broadcast messaging, command and control communications, emergency response communications, etc. – modifying radio devices easily and cost-effectively has become business critical. Software defined radio (SDR) technology brings the flexibility, cost efficiency and power to drive communications forward, with wide-reaching benefits realized by service providers and product developers through to end users

This presentation will try to give the audience an overview about software-defined radio architecture and its applications. The presentation will then focus on the software implementation of DVB-T system. Some demonstrations based on Universal Software Radio Peripheral (USRP) are planned.

Title 6: Mobile IP Centrex value added services for enterprises (demo)
Presenter: Nguyen Vuong Quoc Thinh & Dam Viet Dung (Orange, France)

Abstract:
Mobile IP Centrex services and unified communication have become hot topics within the industry. Mobile IP Centrex is a platform operated by mobile operators which provides PBX-like services (private number, call forwarding, hunt group, etc.), replacing the PBX at the enterprise’s premises.  Today, the Centrex services have been evolved to offer a lower communication cost and a real unified communication experience such as fixed and mobile convergence, unified messaging (integrated voicemail, e-mail, SMS and fax), instant messaging, presence information, telephony.  In this presentation, we will show some mobile Centrex use cases like web-based attendant solution, hunt group, click to call, manager filtering, etc.

Title 7: Startup experience and how to benefit from cloud computing
Presenter: Nguyễn Hải Nam, co-founder of thongtincongnghe.com, engineer at Open Web Solution, France.

Abstract:
Thông Tin Công Nghệ (TTCN) is a technology news website founded in 2007. It is among the most popular websites in technology news, and is ranked 160th overall in Vietnam according to Alexa. With its founders’ technology background, the website does not concentrate only on the content but also on the behind infrastructure. TTCN was a leading Joomla! website, then it is a leading Drupal site now. Many technologies have been applied for high performance and scalability.In this presentation, I will share with you the entrepreneurship experience of TTCN, on how it was born, how it has been evolved and especially, how we could make money from it. Also, there will be a brief introduction of cloud computing and how we benefit (or how we do not benefit) from it.

Title 8: Smart Grid and Applications in Vietnam

Presenter: Nguyễn Tuấn Đức, co-founder of thongtincongnghe.com, Lecturer at International University, Vietnam.
Abstract:
Smart Grid is a type of network grid which tries to connect all power devices to electricity supply networks. Smart Grid  helps to monitor actions, predict and intelligently respond to the behaviour of all electric power devices in order to deliver economic, reliable electricity services and to increase the efficiency of electricity supply to consumers. In the first part of this talk, history and applications of Smart Grid are presented. Then, prospect applications in Vietnam and the research activities on Smart Grid are also discussed.

Title 9: Áp dụng chữ ký số trong giao dịch thương mại điện tử
Người trình bày: Nguyễn Vạn Phúc, Phó Viện trưởng -Viện Công nghệ và Quản trị Á Châu – AITECH, Vietnam
Tóm tắt:
Trong khi thương mại điện tử (TMĐT) phát triển rất mạnh trong khu vực cũng như trên thế giới thì ở Việt Nam (VN) vẫn còn hạn chế bởi thói quen hay ra chợ, đến cửa hàng để mua, trả tiền và mang hàng về. Hay cũng một phần do Internet ở VN chưa đến được từng gia đình và luật cho TMĐT cũng chưa phổ biến. Chính những vấn đề này một phần nói lên được sự hạn chế trong TMĐT ở VN. Để cho TMĐT đến được từng người, từng nhà, cùng một niềm tin của những người khi tham gia TMĐT, bài tham luận đã nghiên cứu chủ đề áp dụng chữ ký số trong các giao dịch thương mại điện tử nhằm đáp ứng tình hình TMĐT VN. Có thể đây chưa là một dịch vụ hoàn chỉnh nhưng với những ý tưởng ban đầu này có thể nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện trong tương lai để áp dụng và đem lại những lợi ích thiết thực cho sự phát triển TMĐT ở VN. Trước hết bài tham luận giúp cho chúng ta hiểu về tầm quan trọng của thương mại điện tử và những rủi ro trong khi giao dịch và đề xuất biện pháp khắc phục. Bài tham luận sẽ giới thiệu những thuật toán bảo mật và xác nhận thuật toán được xem là hiệu quả nhất trong quá trình bảo mật hiện nay. Ngoài ra, cũng giới thiệu vấn đề giúp chúng ta tin tưởng hơn về giao dịch trên mạng và được khẳng định qua chữ ký số. Phần trình bày này cũng khẳng định được vấn đề khuyết điểm mà cần được giải quyết trong thời gian tới đó là khuyết điểm của chữ ký số.

Title 10: Vietnam Spectrum Occupancy Measurements and Analysis for Cognitive Radio Applications
Presenter: Vo Nguyen Quoc Bao, Lecturer at Posts and Telecommunications Institute of Technology (PTIT), Vietnam

Abstract:
The rapid growth of demand for wireless transmission has placed great pressure on the scarce radio spectrum due to the fixed spectrum allocation policy and cognitive radio (CR) is considered as a promising solution to such the problem. The main idea behind a cognitive radio network is for the unlicensed users (also called secondary users) to exploit opportunistically the underutilized spectrum licensed to a licensed network (referred to as a primary network). Before investigating the technical and political implications of CR, it is important to know to what extent the licensed bands are temporally unoccupied. In this paper, for the first time, we investigate the spectrum usage pattern in Vietnam in the frequency bands ranging from 20 MHz to 3000 MHz in Ho Chi Minh City and Long An province. The purpose of the measurement is to find how the scarce radio spectrum allocated to different services is utilized in Vietnam and identify the bands that could be accessed for future opportunistic use due to their low or no active utilization. These analyses indicate that, on average, the actual spectral usage in all bands is 13.74% and 11.19% for Ho Chi Minh City and Long An province, respectively. The experiment results also show that the spectrum band assigned for analog television (470-806) is the highest occupancy band with 58%.

Title 11: Application of multiport RFID tag in food quality detection by using new prototypes of antenna
Presenter: Nguyen Dat Son, Researcher of Laboratory for Nanotechnology, Vietnam National University – Ho Chi Minh city, Vietnam

Abstract:
In recent years, Radio Frequency Identification technology has established itself in important applications for the civilian fields. In another way, the application of quality standards in areas such as food industry, cosmetics or pharmaceuticals… requires the use of specific sensors and expensive microbiological tests. The aim of this research is to design and fabricate a new prototype of multi-port tag as a wireless sensor which can be applied in food quality detection. In a same tag, we will have many pairs of antenna/chip and geometry of each antenna will be adjusted in order that each pair of antenna/chip just operates with some values of permittivity. From the reflected identifications back to the reader, we can monitor the food quality and detect the exact moment that food is contaminated. In this paper, we present the theoretical background and the experimental methods in order to develop the final prototype of wireless sensor tag.

Title 12: Entrepreneurship and Innovation,
Presenter: Mr. Christopher Quang Zobrist, Deputy Director of JVN’s Innovation, Leadership, and Entrepreneurship Programs, Vietnam

Abstract
Entrepreneurship and Innovation are key drivers of technological advancement and economic growth.  Entrepreneurship, as a subject within Management Science, and the way of thinking about and training prospective entrepreneurs and innovators has changed dramatically in the last five years.  For example, the realization that the models and processes for management in large, well-established firms, upon which most management theory and case studies are based, are for the most part, not appropriate for small, emergent firms.  To directly address this new paradigm, JVN is pleased to launch a new Masters degree program to develop the next generation of Innovators, Leaders, and Entrepreneurs.

Title 13: What are the real innovations in telecom operators ?
Presenter: Mr. Tran Dinh Minh, Product Development Manager at Officience, Vietnam
Abstract:
Dưới góc nhìn của một nhà cung cấp dịch vụ gia công ngoài về quy trình công việc cho những nhà cung cấp về truyền thông, chúng tôi muốn đề cập và chia sẽ những thách thức thực sự về đổi mới đối với họ: đổi mới về hoạt động. Đây là vấn đề mà mọi bộ não của họ luôn suy nghĩ và tìm giải pháp hằng ngày. Với vai trò của một nhà cung cấp dịch vụ gia công ngoài về quy trình công việc cho những nhà cung cấp về truyền thông, chúng tôi cũng tham gia vào việc giải quyết những thách thức đó. Trong phần trình bày, để khắc họa rõ nét hơn giá trị dài hạn và tầm quan trọng của đổi mới về hoạt động, chúng tôi sẽ giới thiệu 3 cải tiến về hoạt động mà chúng tôi đã thực hiện cho khách hàng của mình: một tạo ra sự gia tăng về năng suất đồng thời cắt giảm chi phí hoạt động, một mang đến cho khách hàng một công cụ quản lý mới hiệu quả hơn mô hình cũ đồng thời gia tăng sự cộng tác với các nhóm làm việc liên quan, và cuối cùng là một cải tiến giúp nâng cao nhận thức khách hàng về sự hiệu quả trong hoạt động. Đây là những cải tiến quan trọng giúp khách hàng của chúng tôi hoạt động hiệu quả hơn, chặt chẽ hơn và tăng tính cạnh tranh so với các đối thủ cùng ngành.

Posted by: vienthong | September 18, 2011

Hội thảo VNTelecom lần thứ 4

Hội thảo VNTelecom lần thứ 4: Đổi mới và sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông

26 tháng 11, 2011

 Sự phát triển một cách nhanh chóng, cũng như tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của công nghệ thông tin và truyền thông lên nhiều ngành nghề khác nhau đã và đang dựa trên một quá trình nghiên cứu, sáng tạo và đổi mới không ngừng nghỉ của những chuyên gia trong lĩnh vực này. Đó là một chu trình khép kín đòi hỏi sự đầu tư cực kì tốn kém, lâu dài và có tính liên tục của các tập đoàn công nghệ thông tin và truyền thông để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mang tính cạnh tranh cao. Vì vậy, có thể nói nghiên cứu, sáng tạo và đổi mới chính là chìa khóa để xây dựng lên những giá trị cốt lõi mang tính sống còn của các tập đoàn công nghệ thông tin và truyền thông.

Với mục đích cùng nhau trao đổi sâu hơn về những vấn đề kể trên, buổi hội thảo với chủ đề “Đổi mới và sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông” sẽ được cộng đồng viễn thông VNTelecom tổ chức vào Thứ bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2011. Hội thảo còn là cầu nối giữa những người làm trong lĩnh vực ICT ở ngoài nước với các đồng nghiệp và các doanh nghiệp trong nước thông qua giải pháp hội nghị truyền hình.  Đây cũng là nơi giao lưu của tất cả những ai đã, đang và sẽ công tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông cũng như các lĩnh vực liên quan.

Thời gian:

Thứ bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2011

Địa điểm:

  • Tại Pháp: TELECOM ParisTech (ENST Paris), 49 rue Vergniaud 75013 Paris, Pháp
  • Tại Hồ Chí Minh : Officience, 117B, Nguyễn Đình Chính, Quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh

Chương trình chi tiết của buổi hội thảo:

Thông tin về hội thảo sẽ được cập nhật liên tục trên http://conferences.vntelecom.org

Mời tham gia trình bày tại hội thảo VNTelecom 2011:

Ban tổ chức hội thảo chân thành kêu gọi các đồng nghiệp đang làm công tác nghiên cứu, phát triển, tư vấn và kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông gửi bài trình bày tham gia hội thảo với nội dung xoay quanh:

  • Các xu hướng công nghệ mới
  • Kinh nghiệm khởi nghiệp kinh doanh
  • Môi trường đầu tư, hợp tác và phát triển công nghệ mới ở Việt Nam

Để tham gia trình bày, các bạn gửi bản tóm tắt bài trình bày cho chúng tôi theo địa chỉ conferences@vntelecom.org

Bài trình bày sẽ được ban tổ chức xét duyệt trước khi được chấp nhận cho vào chương trình chi tiết của buổi hội thảo.

Mời tài trợ cho hội thảo VNTelecom 2011:

Chúng tôi trân trọng kính mời các cá nhân, cơ quan và tổ chức có thiện ý hỗ trợ quá trình tổ chức hội thảo liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ conferences@vntelecom.org

Chúng tôi sẽ gửi hồ sơ thảo luận và mọi thông tin chi tiết đến các nhà tài trợ một cách sớm nhất.

Các mốc thời gian quan trọng:

Để tham gia trình bày:

  • 09-10-2011: Hạn cuối gửi bản tóm tắt nội dung trình bày và thông tin về tác giả. Xin lưu ý: Bản tóm tắt và thông tin về tác giả không dài quá một trang A4.
  • 25-10-2011: Thông báo kết quả những bài được chấp nhận trình bày tại hội thảo.

Để tham dự hội thảo:

Ban tổ chức hội thảo VNTelecom 2011:

Vũ Ngọc Anh (Officience, FR) Võ Nguyễn Quốc Bảo (PTIT, VN)
Lê Tiến Anh (Telecom SudParis, FR) Lê Hải Bình (MKSmart, VN)
Đàm Việt Dũng (Orange, FR) Nguyễn Quốc Bình (Viettel, VN)
Đặng Thanh Hà (Alten, FR) Nguyễn Tuấn Đức (IU, VN)
Nguyễn Văn Minh (Sequans, FR) Đoàn Hiệp (R&P, VN)
Nguyễn Hải Nam (OWS, FR) Nguyễn Nam Hoàng (VNU UET, VN)
Phạm Trường Thi (Star-Apic, FR) Trần Xuân Tú (VNU UET, VN)
Nguyễn Vương Quốc Thịnh (Orange, FR) Nguyễn Anh Minh (HCMUT, VN)
Posted by: vienthong | April 25, 2011

Iu-Flex

1. IuFlex là gì?

IuFlex (Iu Flex), Flex ở đây là Flexible (Flexibility). Còn Iu thì là đang nói đến giao diện Iu-PS [giữa RNC và SGSN] hay Iu-Cs [giữa RNC và MSC] (gọi chung là Iu).

Trước khi tiếp tục bài viết, tôi lên wiki tìm xem có thông tin gì không, thì bất ngờ là chỉ có wiki tiếng Poland nói đến đặc điểm (feature) này. http://pl.wikipedia.org/wiki/Iu-flex . Tuy nhiên trong link wiki này vẫn có cung cấp một vài tài liệu liên quan đến Iu-Flex của 3GPP.

Trong bài viết này mình sẽ chỉ tập trung vào IuFlex cho mãng dữ liệu (PS core) còn mãng CS (circuit-switched) thì thực ra là tương tự.

Thông thường một RNC chỉ kết nối trực tiếp với một SGSN (một SGSN cung cấp dịch vụ cho nhiều RNC). Nó theo mô hình hierarchical: 1 GGSN quản lý nhiều SGSN, 1 SGSN quản lý nhiều RNC, một RNC quản lý nhiều Node B và một Node B quản lý nhiều UE (mobile).

Từ Rel 5 trở đi, người ta cho phép 1 RNC có thể kết nối với nhiều SGSN. Đặc điểm này được gọi là Iu-Flex, nghĩa là RNC có thể có nhiều giao diện Iu cùng lúc.

2. Lợi ích của Iu-Flex là gì?

- Vì RNC kết nối với nhiều SGSN cùng lúc, nếu lỡ có một SGSN bị hỏng (hay tạm ngừng vận hành để upgrade…) thì vẫn không ảnh hưởng gì đến người dùng dịch vụ. Các cuộc sẽ được đảm bảo bởi các SGSN khác.

- Ta có thể thực hiện việc phân phối hay cân bằng tải giữa các SGSN.

- Khi các SGSN và RNC nằm trong cùng một pool (nhóm) sẽ giúp giảm thiểu được những báo hiệu inter-SGSN như routing update, relocation, handover…. Ví dụ trong trường hợp Inter-MSC hay Inter-SGSN handover (giả sử không có giao diện Iur), thì sẽ có nhiều thông điệp báo hiệu trao đổi giữa các MSC/SGSN. Nếu có Iuflex, ta sẽ giảm thiểu được các thông điệp báo hiệu này.

Các bạn nào quan tâm thì có thể xem thêm bài presentation này http://www.tkn.tu-berlin.de/curricul…olution_XV.pdf

Nếu muốn tìm hiểu chi tiết thì hãy xem “Iu-Flex= Intra-domain connection of Radio Access Network (RAN) nodes to multiple Core Network (CN) nodes (3GPP TS 23.236)

3) Iu-Flex hoạt động ra làm sao?

- Do RNC kết nối với nhiều SGSN/MSC, thế khi một UE kết nối vào mạng thì RNC sẽ làm như thế nào? Nó sẽ định tuyến cuộc gọi ra sao, dựa vào thông tin gì?

Dĩ nhiên cuộc gọi không thể được quản lý bởi nhiều SGSN/MSC cùng lúc được. Nghĩa là RNC chỉ chọn một SGSN/MSC trong số các SGSN/MSC mà nó kết nối. Mỗi SGSN sẽ được xác định bởi một NRI = Network Resource Indicator. Tương tự mỗi MSC cũng được gán một NRI nhất định. NRI giữa SGSN và MSC là độc lập với nhau. Trong cùng một nhóm “pool area” thì các SGSN/MSC phải có NRI khác nhau. Đã là ID thì dĩ nhiên là không thể giống nhau được.

NRI là một số có chiều dài từ 0 đến 10 bits. Tùy theo nhà mạng chọn lựa, phụ thuộc vào kích thước của mạng đó (số SGSN/MSC có trong mạng).

Lấy 1 ví dụ cụ thể: 1 RNC kết nối với 2 SGSN. SGSN 1 được cấu hình với giá trị NRI = 1 và SGSN 2 với giá trị NRI =2. Ở RNC, người ta sẽ chỉ rõ ra rằng với những cuộc gọi đến mà “hàm chứa” giá trị NRI =1, thì RNC sẽ định tuyến cuộc gọi đến SGSN 1, còn nếu NRI =2 thì nó sẽ định tuyến cuộc gọi đến SGSN 2.

Nói tóm lại là ở RNC sẽ có một bảng định tuyến dựa vào giá trị NRI.

- Thế giá trị NRI này được RNC tính như thế nào? NRI này nằm ở đâu, trong bản tin nào của cuộc gọi?

Giá trị NRI nằm trong P-TMSI (đối với PS call) và TMSI (đối với CS call). P-TMSI/hay TMSI có chiều dài là 32 bit, được đánh số ngược từ 31 —0 (tưởng tượng thế ). Thì NRI sẽ được tính từ bit thứ 23 trở đi. Tùy theo chiều dài của NRI mà nhà mạng đã chọn, ví dụ chọn chiều dài là 2, thì bít 23 và 22 sẽ được dùng để tính giá trị NRI.

Khi UE thực hiện kết nối (attach) vào mạng thì nó phải trải qua quá trình chứng nhận thực. UE sẽ gửi về mạng lõi (thông qua RNC) giá trị P-TMSI hay TMSI. RNC sẽ tính NRI và chọn SGSN/MSC tương ứng.

- Đến đây mọi việc có vể ổn. Thế RNC sẽ giải quyết thế nào nếu sau khi áp dụng cách tính trên thì lại tòi ra những cuộc gọi đến với giá trị NRI khác 1 và 2? Ví dụ có những cuộc gọi từ một vùng khác đến với NRI=3?

Đối với những cuộc gọi này, RNC sẽ chọn “ngẫu nhiên” 1 trong 2 SGSN/MSC để chuyển cuộc gọi đến. Thực ra không phải là hoàn toàn ngẫu nhiên mà là theo một quy luật cân bằng tải (load balancing). Nếu 2 SGSN/MSC có cùng khả năng và người ta muốn là nó phân tải một cách đồng đều thì RNC sẽ chọn SGSN/MSC theo quy luật Round Robin (nghĩa là tuần tự xoay vòng). Người ta cũng có thể cấu hình phân tải theo kiểu weighted round robin. Ví dụ nếu người ta muốn SGSN 1 điều phối nhiều gấp 2 lần cuộc gọi so với SGSN 2, thì người ta cấu hình weight hay capacity indicator cho SGSN 1 = 20, còn SGSN 2 = 10 chẳng hạn.

- Thế RNC làm thế nào nếu như một UE mới  lần đầu tiên kết nối vào mạng và không có P-TMSI hay TMSI để gửi về RNC?

Điều này đúng với các new SIM. Lúc đó UE phải gửi ID về mạng là giá trị IMSI (hay IMEI). Lúc đó RNC sẽ định tuyến cuộc gọi dựa vào 3 digit kế cuối trong chuỗi IMSI (lấy 4 số cuối cùng, rồi bỏ đi số cuối cùng), tạm gọi là giá trị V (V-value). Khi cấu hình RNC, người ta cũng phải chỉ rõ là đối với các giá trị V nào thì sẽ chuyển cuộc gọi đến SGSN/MSC nào. Trong ví dụ trên, người ta có thể chọn V=0–499 => chuyển về SGSN 1, và V = 500 — 999 => chuyển về SGSN 2.

- Trong điều khiện mạng vận hành bình thường và UE không di chuyển ra vùng khác, có phải 1 UE sẽ luôn luôn được định tuyến (route) về cùng 1 SGSN?

Để trả lời được câu hỏi này thì bạn phải hiểu là làm thế nào cái số P-TMSI được cung cấp cho UE? Vì thực ra qui cho cùng thì việc định tuyến tại RNC là dựa vào P-TMSI (để tính ra NRI). Mà NRI thì lại định nghĩa tại SGSN. Mấu chốt là nằm ở chỗ, chính SGSN là kẻ cung cấp P-TMSI cho UE, và nó sẽ cung cấp giá trị P-TMSI hàm chứa NRI trong đấy. Vậy đến đây thì câu trả lời cho câu hỏi 1 đã rõ hơn. UE sẽ luôn luôn được định tuyến về cùng 1 SGSN cho đến khi nào UE di chuyển ra khỏi vùng quản lý của SGSN này hoặc là cái P-TMSI bị expired vì một sự cố nào đó (sự cố ở HLR xóa mất dự liệu context của UE chẳng hạn).

-Liệu có dùng được Iu-Flex để thiết kế một SGSN hoàn toàn standby, chỉ dùng đến khi SGSN active kia ngừng vận hành?

Thực ra không thể cấu hình theo kiểu standby – active một cách hoàn toàn được. Vấn đề là mình có thể ép để tất cả các UE kết nối đến cùng SGSN 1. Nhưng tiếp đến, đối với các UE mới, việc routing sẽ dựa vào V-value. Ít nhất cũng phải có 1/1000 UE sẽ được định tuyến về SGSN 2. Tương tự đối với các UE đến từ vùng khác (có NRI khác 1 và 2), các UE này sẽ được phân phối đến SGSN 1 hoặc 2 dựa trên nguyên tắc load balancing. Thực tế thì có thể “play” với giá trị weight để đa phần cuộc gọi đến kiểu này sẽ được route về SGSN 1 nhưng vẫn sẽ phải có một phần nhỏ route về SGSN 2. Nói cách khác có thể ép để SGSN 1 thực hiện 99% cuộc gọi nhưng SGSN 2 vẫn phải thực hiện 1% cuộc gọi còn lại trừ phi chúng ta để SGSN ở chế độ “unavailable/offload”. Nhưng trong trường hợp unavailable thì nó không thể nhận bất ký cuộc gọi nào ngay cả khi SGSN 1 bị hỏng.

Older Posts »

Categories

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.